LỜI GIỚI THIỆU

 

Trải qua một thời gian khá lâu từ khi Tập III của bộ Sớ Điệp Công Văn ra đời năm 2015, đến nay chúng tôi mới có thể hoàn thành xong Tập IV: Điệp Cúng Đám Tang, Trạng, Dẫn, Văn, Hịch, Thiếp, Biểu, Bảng, Cáo.

Về ý nghĩa Trạng, Hịch, Thiếp, v.v., chúng tôi đã giải thích tường tận trong phần Khoa Phạm Công Văn của Sớ Điệp Công Văn Tập I (tr. 21⁓29), xin không đề cập ở đây.

Về nội dung, Sớ Điệp Công Văn Tập IV nầy gồm các loại văn cúng như sau:

  1. Điệp Cúng Đám Tang: có 38 văn Điệp, từ khi thỉnh linh phục hồn, thành phục cho đến phản khốc an linh, gồm các văn Điệp như Điệp Thỉnh Linh An Vị, Điệp Thỉnh Linh Phục Hồn, Điệp Thành Phục, Điệp Cúng Triêu Điện, Điệp Triệu Tổ, Điệp Cúng Tịch Điện, Điệp Cúng Khiển Điện, Điệp Cúng Đồ Trung, Điệp Cáo Đạo Lộ, Điệp Cúng Phản Khốc An Linh, Điệp Cúng Trừ Phục, v.v. Những lòng văn Điệp nầy được dùng để phục vụ cho các nghi lễ quan trọng trong tang lễ hiện hành ở xứ Huế nói riêng và cả toàn quốc Việt Nam nói riêng. Tỷ dụ như trong lòng văn Điệp Thỉnh Linh Phục Hồn I có đoạn: “Ô hô ! Đông thăng Tây một, nãi nhật nguyệt chi doanh hư; triêu tồn tịch vong, thán tử sanh chi hữu mạng; dục thù sanh dục chi ân, tu trượng từ bi chi lực. Tư giả phách y thần cữu, hồn vãng Minh Ty; du du dã bất tri hà xứ đắc truy tùy, tịch tịch dã hốt kiến quan tài an tịnh xá; song hàng sái lệ, cửu khúc đoạn trường; trượng Thiền hòa nhi phúng tụng, y pháp bảo dĩ tuyên dương, tiến văn điệp triệu linh an úy(嗚呼、東升西没、乃日月之盈虛、朝存夕亡、嘆死生之有命、欲酬生育之恩、須仗慈悲之力。玆者魄依神柩、魂徃冥司、悠悠也不知何處得追隨、寂寂也忽見棺材安淨舍、雙行洒涙、九曲斷膓、仗禪和而諷誦、依法寶以宣揚、薦文牒召靈安慰, Than ôi ! Đông mọc Tây lặn, ấy trời trăng bao khuyết tròn; sớm còn tối mất, than sống chết có số mạng; muốn đền nuôi nấng ơn sâu, nên nương từ bi năng lực. Nay lúc vía nương linh cữu, hồn xuống Âm Cung; mênh mang cũng chẳng biết chốn nào kiếm tìm, lẳng lặng lại chợt thấy quan tài nơi nhà vắng; hai hàng lệ nhỏ, chín khúc ruột đau; nhờ chư tăng mà đọc tụng, theo pháp báu để tuyên dương, cúng điệp văn mời linh an ủi).” Hay trong văn Điệp Cúng Triêu Điện III diễn tả tâm trạng đau xót vô cùng tận đối với sự mất mác đấng sinh thành: “Ô hô ! Sanh dục thâm ân, ta hà cập hĩ; định tỉnh ta nan, mịch phong tư bi hiệu thán; mĩ cúng cam chỉ, thử dạ thần cữu tẫn quyền; lai triêu phụng hành an thố, tưởng tượng như tồn như tại; cụ hào soạn trà hiến tửu châm, bồi hồi nhược túy nhược si, phân cốt nhục sầu trường huyết lệ(嗚呼、生育深恩、嗟何及矣、定省嗟難、覓丯姿悲號嘆、靡供甘旨、此夜神柩殯權、來朝奉行安厝、想像如存如在、具餚饌茶獻酒斟、徘徊若醉若癡、分骨肉愁膓血涙, Than ôi ! Nuôi nấng ơn sâu, làm sao báo đáp; định tỉnh khó thay, tìm bóng hình buồn than thở; cúng thức ngon ngọt, đêm nay linh cữu liệm xong, sáng mai tiến hành an táng; tưởng tượng như còn như sống, đủ mâm cỗ trà rót rượu châm; bồi hồi như tỉnh như mê, chia cốt nhục ruột đau máu chảy).”
  2. Trạng: có 30 văn Trạng, rất phong phú về nội dung như Trạng Cúng Quan Thánh, Trạng Cúng Đảo Bệnh, Trạng Cáo Phù Sứ, Trạng Cúng Khẩm Tháng, Trạng Cúng Quan Sát, Trạng Cúng Tống Mộc, Trạng Cúng Đất, Trạng Cúng Thổ Công, Trạng Cúng Khai Trương, Trạng Cúng Hoàn Nguyện, Trạng Cúng Thù Nguyện Tạ Bệnh, Trạng Cúng Thánh Mẫu, Trạng Cúng Tiên Sư, Trạng Cúng Tạ Mộ, Trạng Cúng Táo Quân, Trạng Cúng Dâng Sao Giải Hạn, Trạng Dâng Lễ Cúng Thủy Cung, Trạng Cúng Thành Căn, Trạng Cúng Sám Tạ An Vị Bổn Mạng, Trạng Cúng Chuộc Mạng, Trạng Cúng Tạ Thần Môn, Trạng Cúng Sám Tạ Thần Nhà, v.v. Như trong Trạng Cáo Phù Sứ II có đoạn rằng: “Vị cư Phù Sứ, chức chưởng Công Tào; vi Tam Giới chi chi quăng, tác quần sanh chi nhĩ mục; thượng thông Thiên Đình ư thúc hốt, hạ lâm Địa Phủ ư tu du; nhập Long Cung bất ngại phong ba, khóa trùng sơn khởi từ nguy hiểm; uy nhan hiển hách, thế lực ngang tàng; nguyện giáng bổn đàn, chứng minh pháp sự; thông từ chương ư khoảnh khắc, trì xích độc dĩ tấu thân; tinh hỏa phụng hành, vô vi thần khắc (位居符使、職掌功曹、爲三界之肢肱、作群生之耳目、上通天庭於倏忽、下臨地府於須臾、入宮不礙風波、跨重山豈辭危險、威顏顯赫、勢力昂藏、願降本壇、証明法事、通詞章於頃刻、持尺牘以奏伸、星火奉行、無違辰刻, sống làm Phù Sứ, chức nắm Công Tào; là Ba Cõi ấy tay chân, làm chúng sanh ấy tai mắt; trên thông Thiên Đình trong chớp nhoáng, dưới xuống Địa Phủ trong phút giây; vào Long Cung chẳng ngại phong ba, vượt trùng sơn nào từ nguy hiểm; oai phong hiển hách, thế lực ngang tàng; xin xuống đàn tràng, chứng minh pháp sự; thông chương tấu trong khoảnh khắc, cầm văn thư mà tấu trình; nhanh chóng vâng làm, chẳng sai thời khắc).”
  3. Dẫn: có 4 lòng văn là Dẫn Thủy Sám, Dẫn Thủy Sám Tiên Hạc I, II, III. Tỷ dụ như trong Dẫn Thủy Sám có đoạn giải thích tụng kinh Kinh Thủy Sám để cầu siêu cho người đã mất như: “Tư giả bổn nguyệt thị nhật, đàn khai ... nhật chi liên tiêu, tải thiết tam thiên chi thế giới; phúng tụng Từ Bi Tam Muội Thủy Sám Pháp, tư đương đệ (nhất, nhị, tam) quyển dĩ hoàn long, lãi nghệ án tiền; cảm phiền tiên sứ, phủng trì chương biểu; nghênh tấu thập phương chư Phật, chuyển thân Tứ Phủ vương quan; tiếp vong linh Tây Trúc tiêu diêu, phò dương quyến Nam Sơn hạc toán (玆者本月是日、壇開...之連霄、載設三千之世界、諷誦慈悲三昧水懺法、玆當第(一、二、三)卷已完隆、賚詣案前、敢煩仙使、捧持章表、迎奏十方諸佛、轉伸四府王官、接亡靈西竺逍遙、扶陽眷南山鶴算, nay lúc tháng này ngày ấy, đàn mở ... ngày ấy liền đêm, mở khắp ba ngàn ấy thế giới; đọc tụng Từ Bi Tam Muội Thủy Sám Pháp, nay đang quyển thứ (nhất, hai, ba) đã tròn xong, trước án ban cho; dám phiền tiên sứ, cầm theo chương biểu; tâu lên mười phương chư Phật, chuyển đến Bốn Phủ vương quan; tiếp vong linh Tây Trúc tiêu diêu, giúp gia quyến núi Nam thọ mãi).” Hoặc trong Dẫn Thủy Sám Tiên Hạc II lại có đoạn cầu an cho người bệnh như: “Kim trai chủ bệnh nhân ... đẳng, duy nhật trang nghiêm Phạm vũ, kiền trượng Thiền hòa; phúng tụng Dược Sư Bổn Nguyện Công Đức Kinh, Từ Bi Tam Muội Thủy Sám Pháp, gia trì Tiêu Tai Vãng Sanh Thần Chú, tư đương đệ nhất Ngọ Cúng, khai khải sớ văn nhất phong, cung nghệ án tiền, cảm phiền tiên nương nghênh tấu, thập phương chư Phật chuyển thân, Tứ Phủ vạn linh; phục bao tường khán sự do, khâm phụng Phật chỉ; bạt thoát khiên vưu, giải trừ bệnh căn; vu trung công đức, thứ nguyện khang ninh (今齋主病人... 等、惟日莊嚴梵宇、虔仗禪和、諷誦藥師本願功德經、慈悲三昧水懺法、加持消災徃生神咒、玆當第一午供、開啟疏文一封、恭詣案前、敢煩仙娘迎奏、十方諸佛轉伸、四府萬靈、伏包詳看事由、欽奉佛旨、拔愆尤、解除病根、于中功德、庶願康寧, nay trai chủ bệnh nhân ..., hôm nay trang nghiêm tự viện, nương vào chúng tăng; đọc tụng Dược Sư Bổn Nguyện Công Đức Kinh, Từ Bi Tam Muội Thủy Sám Pháp, trì thêm Tiêu Tai Vãng Sanh Thần Chú, nay đang thứ nhất cúng Ngọ, khai mở sớ văn một phong, kính đến trước án, dám phiền tiên nương dâng tấu, mười phương chư Phật chuyển sang, Bốn Phủ muôn linh, xét soi khắp rõ lý do, vâng theo Phật dạy, cởi bỏ tội khiên, giải trừ căn bệnh; trong đây công đức, mong được ổn yên).”
  4. Văn: có 25 bài, gồm Văn Cúng Hưng Tác, Văn Cáo Đạo Lộ, Văn Cúng Trừ Phục, Văn Cúng Hậu Thổ, Văn Cúng Thượng Lương, Văn Cúng Tống Tam Tai, Văn Cúng Hành Khiển, Văn Cúng Cáo Đẩu, Văn Cúng Dâng Sao, Văn Cúng Cửu Diệu, Văn Cúng Sao La Hầu, Văn Cúng Sao Thổ Tú, Văn Cúng Sao Thủy Diệu, Văn Cúng Sao Thái Bạch, Văn Cúng Sao Thái Dương, Văn Cúng Sao Vân Hớn, Văn Cúng Sao Kế Đô, Văn Cúng Sao Thái Âm, Văn Cúng Sao Mộc Đức, Văn Cúng Thiên Lôi, v.v. Như trong Văn Cúng Hưng Tác I có đoạn cầu nguyện rằng: “Sùng kiến trai đàn, tất cáo lễ dã; tiên lãi thử Thành Hoàng, hậu kính trần Giao Xã; thượng kỳ Thánh đức vô tư, cánh kí thần tâm bất xả; tỷ thử hộ giới chi thần hôn, thỉnh nghiêm bài chi trú dạ; nguyện trai đàn chủ sự hàm an, tư chúng đẳng đồng triêm lợi lạc; kỳ giám nạp chi trai nghi, ngưỡng thần minh chi huệ dã (崇建齋壇、必告禮也、先賚此城隍、後敬陳郊社、尚祈聖德無私、更冀神心不捨、俾此護界之晨昏、請嚴排之晝夜、願齋壇主事咸安、玆衆等同霑利樂、祈鑒納之齋儀、仰神明之惠也, kiến lập đàn chay, phải cáo lẽ vậy; trước đến nơi Thành Hoàng, sau kính thưa trời đất; lại cầu đức Thánh vô tư, những mong Thần tâm chiếu cố; khiến đây ủng hộ ấy sớm hôm, xin nghiêm trang ấy trú dạ; nguyện trai chủ việc đều yên, nay chúng con thấm nhuần lợi lạc; cầu xét nhận ấy nghi chay, kính thần linh ban ân huệ).” Hoặc trong Văn Cúng Dâng Sao cũng dốc cả tâm thành cầu xin rằng: “Thần đẳng sanh tàm trắc lậu, tính bổn dung sơ; hàm mông cao hậu chi tài bồi, phó dư toàn tư ư đại tạo. Ngưỡng nguyện tinh thần chi chiếu diệu, băng cạnh di thiết ư trần tâm; chiếu lâm hữu hách, bàng chúc vô phương; sanh sanh thần bất tể chi công, cao hạ hồng tiêm các toại; điệp điệp diệu hà ngôn chi hóa, thu tàng sinh trưởng du nghi; hung tinh chuyển tác phước tinh, sát thấu phiên thành cát thấu; bảo thần đẳng chi thân cung khang thái, mạng vị bình an; hựu thần đẳng chi tật bệnh tiêu trừ, thọ niên diên vĩnh (臣等生慚側陋、性本庸疎、咸蒙高厚之栽培、付予全資於大造。仰願星辰之照耀、冰競彌切於塵心、照臨有赫、旁燭無方、生生神不宰之功、高下洪纖各遂、叠叠妙何言之化、收藏生長攸宜、凶星轉作福星、殺湊翻成吉湊、保臣等之身躬康泰、命位平安、佑臣等之疾病消除、壽年延永, chúng thần hẹp hòi sống thẹn, tánh vốn ngu hèn; trông mong cao dày ấy đắp bồi, phó thác toàn nhờ nơi tạo hóa. Ngưỡng mong sao thần mà chiếu sáng, lo sợ tha thiết với lòng trần; soi đến hiển hách, tỏa rạng muôn nơi; sanh sanh thần chẳng kể công lao, cao thấp lớn nhỏ đều vẹn; điệp điệp mầu bao lời cảm hóa, thu giữ sinh trưởng thành nên; sao xấu chuyển thành sao phước, hạn sát tròn thành hạn tốt, giúp chúng thần được thân thể yên ổn, mạng vị bình an, chúng thần nay bao bệnh tật tiêu trừ, tuổi thọ dài mãi).”
  5. Hịch: có 29 bài, gồm Hịch Chiêu Phan Tại Ngã Ba Đường, Hịch Chiêu Nghinh Sơn, Hịch Chiêu Nghinh Thủy, Hịch Ngũ Phương, Hịch Đông Phương, Hịch Nam Phương, Hịch Tây Phương, Hịch Bắc Phương, Hịch Khai Tịch Ngũ Phương, Hịch Bạt Độ Ngũ Phương Ngoại, Hịch Bạt Độ Ngũ Phương Nội, Hịch Phương Đông Đàn Trùng Tang Nam Thương, v.v. Như trong Hịch Chiêu Nghinh Sơn có đoạn rằng: “Âm Dương Lưỡng Giới Minh Thông Đệ Hồn Sứ Giả, thỉnh tuân Phật sắc, tường tất sự do, tật tốc biến vãng thập phương âm giới, đẳng xứ Minh Tào, sưu tầm thọ nghiệp đẳng chư hoạnh hồn, chiếu thử thần phan, minh chương báo ứng, sĩ kỳ tiếp triệu, đồng phó trai đàn, thính pháp văn kinh, thừa công thác hóa, hịch đáo phụng hành, thận vật trì trệ (陰陽兩界明通遞魂使者、請遵佛敕、祥悉事由、疾速遍徃十方陰界、等處冥曹、搜尋受業等諸橫魂、炤此神旛、明彰報應、俟期接召、同赴齋壇、聽法聞經、承功托化、檄到奉行、愼勿遲滯, Âm Dương Hai cõi Minh Thông Dẫn Hồn Sứ Giả, xin tuân Phật sắc, rõ hết sự việc, cấp tốc qua đến mười phương âm cõi, khắp chốn Minh tào, lục tìm chịu nghiệp các vị hoạnh hồn, chiếu thần phan này, rõ rành báo ứng, đợi lúc tiếp đến, cùng tới đàn chay, nghe pháp nghe kinh, nhờ công chuyển hóa, hịch đến vâng làm, không được chậm trễ).” Hay trong cũng có đoạn: “Thượng đạt Đông Phương A Súc Như Lai, tọa bảo liên đài, phóng quang chiếu ngục, liên hoa phủng túc, thước phá u quan, trí thị Đông Phương A Tỳ Địa Ngục, Thanh Diện Quỷ Vương, Bạt Độ Chủ Giả, phóng xá vong hồn, tốc ly Địa Ngục, thăng thượng bảo đài, tùy quang kiến Phật, thính pháp văn kinh, tiêu diêu tự tại (上達東方阿閦如來、坐寶蓮臺、放光照獄、蓮花捧足、爍破幽關、致示東方阿鼻地獄、青面鬼王、拔度主者、放赦亡魂、速離地獄、升上寶臺、隨光見佛、聽法聞經、逍遙自在, trên thấu Đông Phương A Súc Như Lai, ngồi tòa báu sen, phóng quang chiếu ngục, hoa sen đỡ chân, chiếu phá cửa u, đến tận phương Đông A Tỳ Địa Ngục, Mặt Xanh Quỷ Vương, Bạt Độ Chủ Giả, phóng tha vong hồn, chóng lìa địa ngục, lên cao báu đài, hào quang thấy Phật, nghe pháp nghe kinh, tiêu diêu tự tại).”
  6. Thiếp: có 11 phong, gồm Thiếp Cáo Đạo Lộ, Thiếp Cấp, Thiếp Tứ Sanh Lục Đạo, Thiếp Cấp Phóng Sanh, Thiếp Tam Bảo, Thiếp Tịnh Trù, Thiếp Cấp Thủy, Thiếp Cúng Tạ Thổ, Thiếp Cúng Tăng, Thiếp Cúng Ni, Thiếp Cúng Môn Đồ, v.v. Như trong Thiếp Cấp có đoạn rằng: “Tuế lưu tự mại, húy nhật phục lâm; cẩn biểu thốn thành, bất thắng cảm hà; tải trần trở đậu, dụng thân nhất niệm chi đơn thầm; kính tiến hinh hương, thượng kí Cửu Tuyền chi mặc giám(歳流自邁、諱日復臨、謹表寸誠、不勝感荷、載陳俎豆、用伸一念之丹忱、敬薦馨香、尚冀九泉之默鑒, thời gian thấm thoát, húy nhật đến rồi; dâng cả tấc thành, mong sao cảm tạ; biện bày lễ cúng, mong tỏ một niệm ấy chí thành; kính cúng hương thơm, ngưỡng trông Suối Vàng sao chứng giám).” Hay trong Thiếp Tam Bảo lại có đoạn: “Duy nguyện: Hồi quang phản chiếu, xả ngụy minh chơn; mai hiềm mai oán chi tâm, sanh vô ngã vô nhân chi niệm; tùng kim hướng hậu, nhĩ ngã vô can; tỷ tật bệnh tốc dũ tốc thuyên, bảo thân thể thường an thường lạc (惟願、廻光返照、捨僞明眞、埋嫌埋怨之心、生無我無人之念、從今向後、你我無干、俾疾病速愈速痊、保身體常安常樂, Kính mong: Hồi quang nhìn lại, bỏ dối rõ chơn; chôn oán chôn ghét bao tâm, sanh vô ngã vô nhân các niệm; từ nay về sau, ta người không can; khiến tật bệnh chóng bớt chóng lành, giúp thân thể thường an thường lạc).”
  7. Biểu: có 17 phong, gồm Biểu Hoàn Quyển Kinh Thủy Sám, Biểu Thủy Sám Quyển 1, 2, 3; Biểu Lương Hoàng Sám Quyển 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10. Như trong Biểu Thủy Sám Quyển 1a có đoạn rằng: “Phục nguyện: Nhất tâm khai lãng, nhất chướng tiêu trừ; nhất tâm vô sanh, chuyển tác viên minh chi pháp tướng; nhất trần bất nhiễm, phản hồi giác ngộ chi chân tâm; bái Pháp Thân Phật vu thiên hoa ảnh lí, tham Đẳng Giác Địa vu bách bảo quang trung. Cung vọng Phật ân, chứng minh cẩn biểu (伏願、一心開朗、一障消除、一心無生、轉作圓明之法相、一塵不染、返回覺悟之眞心、拜法身佛于千花影裡、參等覺地于百寶光中、恭望佛恩、證明謹表, Cúi mong: Một tâm khai sáng, một chướng tiêu trừ; một tâm không sanh, chuyển thành tròn sáng ấy pháp tướng; một bụi không nhiễm, trở về giác ngộ ấy chân tâm; lạy Pháp Thân Phật nơi ngàn hoa ảnh ấy, tham Đẳng Giác Địa nơi trăm báu hào quang. Kính trông ơn Phật, chứng minh dâng biểu).” Hay trong Biểu Lương Hoàng Sám Quyển 2 lại có đoạn: “Thiết niệm: Căn trần nhiễm trước, nghiệp chướng khiên triền; sân hỏa xí nhiên, lũy kiếp hôi Bồ Đề chi chủng; ái hà phiêu diểu, đa sanh dũng phiền não chi ba; nhất nhất khiên vưu, đa đa quá cữu; nhược phi tẩy sám, hà dĩ tiêu khiên; cẩn thủ kim nguyệt ... nhật, đặc tu sám pháp, vọng bái từ tôn; tẩy tịnh khiên vưu, diên ưng phước thọ. Kim tắc đệ nhị quyển dĩ hoàn, cẩn cụ văn biểu nhất hàm; thành hoàng thành khủng, khể thủ khấu thủ, hòa nam cửu bái (竊念、根塵染著、業障牽纒、嗔火熾然、累刼灰菩提之種、愛河飄渺、多生湧煩惱之波、一一愆尤、多多過咎、若非洗懺、何以消愆、謹取今月...、特修懺法、望拜慈尊、洗淨愆尤、延膺福壽。今則第二卷已完、謹具文表一函、誠惶誠恐、稽首叩首、和南九拜, Nép nghĩ: Căn trần nhiễm trước, nghiệp chướng buộc ràng; lửa sân đốt thiêu, bao kiếp tiêu Bồ Đề hạt giống; sông thương xa tít, nhiều đời tuôn phiền não sóng cồn; mỗi một lỗi lầm, nhiều nhiều sai trái; nếu không sám hối, lấy gì tội tiêu; kính chọn ngày ... tháng ấy, tu tập pháp sám, trông lạy từ tôn; rửa sạch lỗi lầm, dài lâu phước thọ. Nay lúc quyển thứ hai đã xong, kính đủ biểu văn một phong, khép nép run sợ, dập đầu cúi đầu, kính thành chín lạy).”
  8. Bảng: có 16 bức, gồm Đạo Tràng Bảng, Tiết Thứ Bảng, U Minh Bảng, Bảng Đúc Chuông Viên Mãn Chẩn Tế, Bảng Cô Hồn, Bảng Giám Môn, Bảng Giám Đàn, Bảng Đại Trai Đàn, Bảng Thúc Ước, Bảng Giám Phan, Bảng Hương Tích Giới Ngôn, Bảng Trai Đàn Giới Ý, v.v. Trong Đạo Tràng Bảng II có đoạn: “Cung văn: Giác hoàng diệu điển, tự Hán đế chi sơ truyền; pháp thí huyền khoa, nãi Đường triều chi phổ độ; vi Tịnh Độ chi yếu đạo, đức bị u minh; tác khổ hải chi tân lương, ân triêm thủy lục; phi nhất thần chi giáo điển, lập vạn pháp dĩ truy tu; nguyện thư Liên Nhãn chi quang, phủ giám quỳ tình chi khẩn (恭聞、覺皇妙典、自漢帝之初傳、法施玄科、乃唐朝之普度、爲淨土之要道、德僃幽冥、作苦海之津梁、恩霑水陸、非一辰之敎典、立萬法以追修、願舒蓮眼之光、俯鑒葵情之懇, Kính nghe: Kinh điển đức Phật, từ nhà Hán mới truyền vào; pháp thí khoa mầu, đến nhà Đường ấy độ khắp; là Tịnh Độ ấy đường chính, đức tỏa tối tăm; làm biển khổ ấy cầu qua, ơn nhuần khắp chốn; là muôn đời ấy Thánh điển, lập muôn pháp để bồi tu; nguyện mở Mắt Sen hào quang, chứng giám phàm tình tha thiết).” Hay trong Bảng Cô Hồn 1 lại có đoạn rằng: “Cái văn: Thiết Vi sơn nội, hiệu hiệu thanh bất tuyệt chi bi ai; Đao Lợi thiên cung, ha ha tiếu vô cùng chi diệu tướng. Tư nãi Du Già tịnh thiết, chỉ kỳ thác chất vu Liên Bang; như tư pháp sự tuyên dương, đản nguyện cơ hư chi nghiệp thoát. Bần nạp pháp danh ... sùng tu pháp hội chi trai đàn, phổ thí hà sa chi Ngạ Quỷ, thành tất hưởng thực, văn kinh thính pháp, Cam Lộ nhuận hóa (蓋聞、鐵圍山內、號號聲不絕之悲哀、忉利天宮、呵呵笑無窮之妙相。玆乃瑜伽淨設、只祈托質于蓮邦、如斯法事宣揚、但願饑虛業脫。貧衲法名...崇修法會之齋壇、普施河沙之餓鬼、誠必享食、聞經聽法、甘露潤, Từng nghe: Thiết Vi trong núi, tiếng gào thét bất tuyệt ấy buồn đau; Đao Lợi cung trời, ha hả cười không cùng ấy tướng tốt. Nay lúc Du Già thiết cúng, chỉ cầu thác sanh về Liên Bang; như pháp sự nầy tuyên dương, những mong đói khát nghiệp siêu thoát. Bần tăng pháp danh ... kính lập pháp hội ấy đàn chay, ban khắp hà sa bao Ngạ Quỷ, thành được thọ hưởng, lắng nghe kinh pháp, Cam Lộ chuyển hóa).”
  1. Cáo: có 46 bức, gồm Cáo Các Phương Bạt Độ Giải Oan Đoạn Nghiệp, Cáo Các Phương Giải Trừ Nam Thương, Cáo Các Phương Nghiệp Loại Kiêm Nam Thương, Cáo Các Phương Nam Thương, Cáo Các Phương Đàn Trùng Tang, Cáo Các Phương Bạt Độ Tổ Tiên, Cáo Các Phương Bạt Độ Huyết Hồ, v.v. Như trong Cáo Đông Phương Giải Trừ Nam Thương có đoạn rằng: “Cẩn thỉnh Đông Phương Chấn Cung Tam Bích Mão Vị Thần Quan, lai giáng Đông phương, khư trừ Thần Sát, Nam Thương yểu tử, Quan Sát ngạn tinh, tân một cựu vong, luân hồi đẳng chúng, tốc quy bổn mạng, viễn khứ tha phương, bạt độ vong linh ... đẳng hồn, thoát liễu nghiệp duyên, xuất ly tù ngục, ngưỡng bằng pháp lực, thác hóa cánh sinh, nhất thiết vong linh, đồng đăng giác ngạn; thứ kỳ trai chủ, các bảo bình an; nhất như cáo mệnh, phong hỏa dịch truyền (謹請東方震宮三碧卯位神官、來降東方、祛除神煞、南殤殀死、關煞犴猩、新沒舊亡、輪迴等衆、速歸本命、遠去他方、拔度亡靈...等魂、脫了業緣、出離囚獄、仰憑法力、托化更生、一切亡靈、同豋覺岸、庶祈齋主、各保平安、一如告命、風火驛傳, Kính thỉnh Chấn Cung Tam Bích Mão Vị Thần Quan ở phương Đông, giáng đến phương Đông, trừ khử Thần Sát, Nam Thương chết yểu, Quan Sát yêu tinh, hồn cũ vong mới, luân hồi các chúng, nhanh về bổn mạng, đi xa tha phương, cứu độ vong linh ... hồn, thoát hết nghiệp duyên, ra khỏi tù ngục, ngưỡng nhờ lực pháp, chuyển hóa tái sanh, hết thảy vong linh, cùng lên bờ giác; kế cầu trai chủ, thảy được bình yên; nhất như cáo mệnh, nhanh chóng truyền đi).”

Tất cả những lòng văn cúng này được thâu lục, đối chiếu, chọn lọc từ một số nguồn tư liệu tác giả thâu thập lâu nay như:

  1. Một số văn Sớ, Điệp, Hịch, Trạng thỉnh được tại Chùa Tường Quang (祥光寺), số 213 Đường Chi Lăng, Phường Phú Hậu, Thành Phố Huế.
  2. Bản chép tay bằng Hán ngữ Phật Môn Giản Lược Công Văn Thiện Bản (佛門簡略攻文善本, ghi Phật Lịch 2510, ngày mồng 8 tháng 2 năm Bính Ngọ [1966]) của cố Hòa Thượng Thích Tâm Giải (釋心解), nguyên trú trì Chùa Từ Quang (慈光寺), Thành Phố Huế.
  3. Bản chép tay bằng Hán ngữ Công Văn (攻文) rất công phu, không rõ năm, không rõ tác giả và năm sao chép; nhưng rất súc tích với khá đầy đủ các lòng văn Sớ dùng cho mọi trường hợp.
  4. Bản chép tay bằng Hán ngữ Bạt Độ Trùng Tang Nam Thương Huyết Hồ Chẩn Tế Khánh Sanh Trai Đàn Công Văn (拔度重喪南殤血湖賑濟慶生齊壇攻文), ghi năm Kỷ Mão (1939), thủ bút của Hòa Thượng Giác Thể (覺體, Sắc Tứ Tịnh Quang Tự Quảng Trị)
  5. Bản bản chép tay Hán ngữ Tân Soạn Tang Nghi Chư Lễ Sớ Điệp Tập Thành (新撰喪儀諸禮疏牒集成), ghi năm Nhâm Thân (1932), thủ bút của Hòa Thượng Giác Thể (覺體, Sắc Tứ Tịnh Quang Tự Quảng Trị).
  6. Bản Roneo Đạo Tràng Công Văn Yếu Lược của Hòa Thượng Chơn Giám, 1980.
  7. Bản chép tay Hán ngữ Công Văn Đại Bản (攻文大本), thủ bút của Hòa Thượng Quảng Tu (廣修, Chùa Thiên Hưng), ghi năm Khải Định 7, Nhâm Tuất (1922).
  8. Bản Ứng Phó Đạo Tràng Công Văn Yếu Lược (應赴道塲攻文要畧), thủ bút của Hòa Thượng Trí Hải (智海) Bích Liên Lan Nhã (碧蓮蘭若), Bình Định, không rõ năm.

Và một số thủ bản, khắc bản khác (xin tham chiếu phần Thư Mục Tham Khảo).

Trong quá trình tiến hành công trình nầy, chúng tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên, khích lệ, ủng hộ về mặt tinh thần lẫn vật chất của quý vị thiện hữu tri thức và Phật tử xa gần cũng như các độc giả từng đọc qua các tập Sớ Điệp Công Văn đã xuất bản trước đây. Xin chân thành tri ân quý liệt vị.

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ tấc lòng biết ơn vô vàn đến người cha thân thương pháp danh Tâm Quyền đã quá vãng và người mẹ hiền hậu pháp danh Nguyên Hội đang còn tại thế của tôi. Hai người thường xuyên hỏi thăm về công trình xuất bản của tôi. Trong đó, thân phụ tôi khi còn sinh tiền là người rất thích về nghi lễ Phật Giáo. Cứ mỗi lần xuất bản được tập Sớ Điệp Công Văn mới nào, tôi đều trình lên ông và tôi thấy ông đọc chăm chú, say mê. Có lẽ mấy tập Sớ Điệp Công Văn của tôi cũng giúp ông nhiều lắm trong những lúc ông viết sớ giấy cúng Tuần Thất, cầu siêu, cầu an, v.v., cho bà con lối xóm. Vì vậy, khi tôi về thăm nhà, ông thường hỏi tôi rằng: “Thầy có in bộ nào mới không ?” Kính xin hồi hướng tất cả công đức lên Người và nguyện cầu chơn linh Người tiêu diêu chơn thế giới.

Cuối cùng soạn giả cũng xin bày tỏ lời cám ơn với đạo hữu Thanh Nguyên đã góp công rất nhiều trong việc trình bày cho tác phẩm được hoàn mỹ.

 

 

Tỳ kheo Thích Nguyên Tâm

Cẩn bút

Thiền Thất Hương Nghiêm, Tp. Anaheim, California, Hoa Kỳ

Mùa Phật Đản Kỷ Hợi, 2019